Giá cà phê duy trì ổn định
Trên thế giới, giá cà phê Robusta tại London biến động trái chiều trong các kỳ giao hàng. Cụ thể, kỳ giao tháng 1/2026 giảm nhẹ 5 USD/tấn, xuống mức 4190 USD/tấn. Trong khi đó, hợp đồng giao kỳ hạn tháng 9/2026 lại tăng thêm 5 USD/tấn, đạt mức 3830 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica lại ghi nhận phiên giảm giá liên tục trong các kỳ giao hàng. Cụ thể, kỳ giao tháng 3/2026 giảm nhẹ 2,8 cent/lb, đạt mức 355,3 cent/lb. Tương tự, hợp đồng giao tháng 12/2026 cũng giảm tiếp 2,75 cent/lb, đạt mức 320,55 cent/lb.
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, cà phê Arabica Brazil ghi nhận tăng giảm đan xen trong các kỳ giao hàng. Cụ thể: kỳ hạn tháng 3/2026 đạt mức 429,0 cent/lb, tăng nhẹ 0,85 cent/lb so với hôm qua. Kỳ giao hàng tháng 12/2026 lại giảm nhẹ 3,65 cent/lb, đạt mức 390,75 cent/lb.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Giá cà phê nội địa hôm nay (20/1) không ghi nhận biến động mới. Các địa phương đều giữ nguyên mức giá cả so với ngày hôm qua. Hiện giá cà phê trong nước dao động từ 98.300 - 99.000 đồng/kg tại các vùng trọng điểm khu vực Tây Nguyên.
Cụ thể, giá cà phê hôm nay tại tỉnh Đắk Lắk không ghi nhận biến động mới so với ngày hôm qua, đạt mức 99.000 đồng/kg.
Tương tự, giá cà phê hôm nay tại tỉnh Gia Lai giao dịch ở mức 99.000 đồng/kg, đi ngang so với hôm qua. Gia Lai và Đắk Lắk là 2 địa phương có mức giá cà phê cao nhất trên cả nước hôm nay.
Trong khi đó, giá cà phê hôm nay tại tỉnh Lâm Đồng hiện giao dịch ở mức 98.300 đồng/kg, không biến động so với hôm qua.
Theo ghi nhận từ thị trường, tâm lý giữ hàng chờ giá sau Tết đang chi phối mạnh quyết định bán ra của nông dân. Khi lượng cà phê còn lại trong dân không nhiều, trong khi chi phí đầu vào tăng, nhiều hộ sản xuất lựa chọn bán cầm chừng, tạo lực đỡ cho giá nội địa.
Ở bình diện quốc tế, giá cà phê thế giới duy trì trạng thái ổn định sau các nhịp điều chỉnh trước đó. Những lo ngại liên quan đến nguồn cung toàn cầu vẫn chưa hoàn toàn được giải tỏa, giúp giá cà phê không rơi vào xu hướng giảm sâu và tiếp tục hỗ trợ thị trường trong nước.
Giới phân tích cho rằng, từ nay đến kỳ nghỉ Tết, giá cà phê nội địa nhiều khả năng tiếp tục đi ngang trong biên độ hẹp. Sau Tết, khi hoạt động xuất khẩu sôi động trở lại và nguồn cung tiếp tục thắt chặt, khả năng giá thử thách lại mốc 100.000 đồng/kg vẫn được kỳ vọng.
Giá hồ tiêu lặng sóng
Giá tiêu hôm nay (20/1) “lặng sóng” khi thị trường nội địa tiếp tục đi ngang, duy trì mặt bằng giao dịch trong khoảng 147.500 – 148.500 đồng/kg. Đây là vùng giá thấp hơn đáng kể so với đầu tháng, phản ánh nhịp điều chỉnh sau chuỗi giảm mạnh kéo dài nhiều phiên liên tiếp trước đó.
Tại tỉnh Đắk Lắk, giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 148.500 đồng/kg. Tại khu vực Đắk Nông (tỉnh Lâm Đồng), giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 148.500 đồng/kg.
Tại tỉnh Gia Lai, giá tiêu hôm nay ở mức 148.000 đồng/kg. Trong khi đó tại Đồng Nai, giá tiêu hôm nay ở mức 148.000 đồng/kg. Tại khu vực Bà Rịa - Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh), giá tiêu hôm nay ở mức 148.000 đồng/kg.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Còn tại khu vực Bình Phước (tỉnh Đồng Nai) giá tiêu hôm nay được thu mua với mức 147.500 đồng/kg.
Giá tiêu đầu giờ sáng nay giữ ổn định so với cùng thời điểm sáng hôm qua.
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, Cộng đồng Hồ tiêu Quốc tế (IPC) niêm yết giá tiêu đen Lampung (Indonesia) chốt tại 6.609 USD/tấn, tăng 0,7%; giá tiêu đen Brazil ASTA 570 ở mức 6.100 USD/tấn; giá tiêu đen Kuching (Malaysia) ASTA mức 9.000 USD/tấn.
Giá tiêu trắng Muntok 9.088 USD/tấn, giảm 0,33%; giá tiêu trắng Malaysia ASTA ở mức 12.000 USD/tấn.
Giá tiêu đen Việt Nam giao dịch ở 6.400 USD/tấn với loại 500 g/l; loại 550 g/l mức 6.600 USD/tấn; giá tiêu trắng ở mức 9.150 USD/tấn.
Theo thống kê của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), năm 2025 Việt Nam xuất khẩu khoảng 247.482 tấn hồ tiêu, kim ngạch đạt trên 1,6 tỷ USD, tăng hơn 26% so với năm 2024. Đây được xem là mức kim ngạch cao nhất từ trước đến nay của ngành hồ tiêu Việt Nam, đáng chú ý ở chỗ: giá trị tăng mạnh dù sản lượng xuất khẩu giảm.
Động lực chính nằm ở giá xuất khẩu bình quân tăng mạnh. Theo VPSA, giá xuất khẩu bình quân tiêu đen đạt 6.607 USD/tấn (tăng hơn 36%), còn tiêu trắng khoảng 8.629 USD/tấn (tăng 33,6%). Điều này cho thấy hồ tiêu Việt Nam đã bước sang một “mặt bằng giá mới”, khi nguồn cung thế giới suy giảm trong khi nhu cầu duy trì ổn định.
Tuy nhiên, tại hội nghị thường niên ngành hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam năm 2025, nhiều ý kiến thẳng thắn cho rằng 2026 sẽ là một năm “căng”. Ông Hồ Trí Nhuận, Giám đốc Công ty TNHH MTV Gohan, nhận định 2026 có thể là năm tiền đề báo hiệu một chu kỳ khó khăn mới. Trong bối cảnh nhu cầu dự báo tăng, vấn đề lớn lại là: nguồn hàng ở đâu để cung ứng, khi sản lượng giảm liên tục nhiều năm và tồn kho toàn cầu đã xuống thấp.
Theo ông Nhuận, sản lượng hồ tiêu Việt Nam đã giảm luỹ tiến từ năm 2020 đến nay khoảng 50.000 tấn và xu hướng này chưa dừng lại do thời tiết tiếp tục bất lợi cho mùa vụ mới.
Ở góc độ dự báo vụ mùa, VSPA đánh giá sơ bộ sản lượng vụ tiêu 2026 có thể giảm khoảng 15–20% so với năm 2025, do điều kiện thời tiết bất lợi trong giai đoạn hình thành năng suất.
Không chỉ rủi ro thiếu hàng, doanh nghiệp còn đối diện một áp lực khác: hàng rào kỹ thuật. Đại diện Simexco Daklak cho rằng dù kim ngạch tăng mạnh là tín hiệu tích cực nhưng năm 2026 ngành có thể gặp hệ thống kiểm soát kỹ thuật “chưa từng có”, trọng tâm là dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (BVTV). Các thị trường như EU, Mỹ, Hàn Quốc, Đài Loan liên tục cập nhật quy định mới; nếu doanh nghiệp không nắm bắt kịp, rủi ro hàng không thông quan, thiệt hại hợp đồng là rất lớn.
Ở phía cơ quan quản lý, đại diện Cục Trồng trọt và BVTV cho biết định hướng sắp tới là hoàn thiện hệ thống quản lý thuốc, loại bỏ các hoạt chất ảnh hưởng sức khoẻ – môi trường, đồng thời chuyển trọng tâm từ “phòng trừ” sang “quản lý chủ động” ngay từ đầu vào. Đặc biệt, ngành hồ tiêu được khuyến nghị gắn sản xuất với yêu cầu thị trường, phát triển chuỗi giá trị, chế biến sâu và tăng cường truy xuất nguồn gốc để đáp ứng tiêu chuẩn ngày càng cao.





