Giá cà phê neo ở mức cao
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta tại London biến động trái chiều trong các kỳ giao hàng. Cụ thể, kỳ giao tháng 1/2026 đảo chiều giảm nhẹ 8 USD/tấn, xuống mức 4195 USD/tấn. Trong khi đó, hợp đồng giao kỳ hạn tháng 9/2026 lại đảo chiều tăng thêm 8 USD/tấn, đạt mức 3825 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica lại ghi nhận phiên đảo chiều giảm giá liên tục trong các kỳ giao hàng. Cụ thể, kỳ giao tháng 3/2026 giảm nhẹ 2,8 cent/lb, đạt mức 355,3 cent/lb. Tương tự, hợp đồng giao tháng 12/2026 cũng giảm tiếp 2,75 cent/lb, đạt mức 320,55 cent/lb.
Kết thúc phiên giao dịch gần nhất, cà phê Arabica Brazil cũng ghi nhận phiên sụt giảm liên tục trong các kỳ giao hàng. Cụ thể: kỳ hạn tháng 3/2026 đạt mức 429,3 cent/lb, giảm nhẹ 2,3 cent/lb so với hôm qua. Kỳ giao hàng tháng 12/2026 cũng giảm nhẹ 3,65 cent/lb, đạt mức 390,75 cent/lb.
Giá cà phê nội địa hôm nay (18/01) ghi nhận giảm nhẹ tại Lâm Đồng, các địa phương còn lại không biến động. Hiện giá cà phê trong nước dao động từ 98.300 - 99.000 đồng/kg tại các vùng trọng điểm khu vực Tây Nguyên.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Cụ thể, giá cà phê hôm nay tại tỉnh Đắk Lắk không ghi nhận biến động mới so với ngày hôm qua, đạt mức 99.000 đồng/kg.
Tương tự, giá cà phê hôm nay tại tỉnh Gia Lai giao dịch ở mức 99.000 đồng/kg, đi ngang so với hôm qua. Gia Lai và Đắk Lắk là 2 địa phương có mức giá cà phê cao nhất trên cả nước hôm nay.
Trong khi đó, giá cà phê hôm nay tại tỉnh Lâm Đồng hiện giao dịch ở mức 98.300 đồng/kg, giảm nhẹ 200 đồng/kg so với hôm qua. Mức giảm này được đánh giá là không đáng kể và chưa tạo ra áp lực lớn lên thị trường nội địa.
Trong ngắn hạn, giá cà phê trong nước nhiều khả năng vẫn được nâng đỡ bởi hai yếu tố then chốt: xu hướng tăng của thị trường thế giới và lượng hàng trong dân không bung mạnh. Khi người trồng vẫn ưu tiên giữ hàng, nguồn cung thực tế ra thị trường sẽ mang tính “nhỏ giọt” khiến giá khó giảm sâu.
Tuy nhiên, thị trường cũng không thiếu rủi ro điều chỉnh. Diễn biến chỉ số đồng USD là yếu tố có thể làm thay đổi nhịp giá trong các phiên tới, bởi USD mạnh thường gây áp lực lên nhóm hàng hóa. Bên cạnh đó, hoạt động chốt lời của giới đầu cơ trên sàn quốc tế luôn có thể tạo ra những nhịp rung lắc ngắn hạn, nhất là khi giá đã tăng liên tục và tiến sát các vùng kháng cự tâm lý.
Với bối cảnh hiện tại, thị trường cà phê đang ở trạng thái “neo cao” và tăng có chọn lọc, trong đó mốc 99.000 đồng/kg trong nước trở thành vùng giá đáng chú ý. Nếu thị trường thế giới tiếp tục duy trì sắc xanh và không xuất hiện cú điều chỉnh mạnh, giá cà phê nội địa hoàn toàn có thể thử thách các mốc cao hơn trong các phiên tới.
Giá hồ tiêu ổn định
Giá tiêu thị trường trong nước hôm nay (18/01) không ghi nhận biến động mới sau phiên sụt giảm giá sâu từ hôm qua. Hiện hồ tiêu trong nước giao dịch quanh ngưỡng 147.500 - 148.500 đồng/kg.
Tại Gia Lai và TP Hồ Chí Minh, giá tiêu sáng nay được thu mua ở mức 148.000 đồng/kg, giữ nguyên so với phiên trước. Tại Đắk Lắk và Lâm Đồng, giá tiêu tiếp tục neo ở mức cao nhất cả nước, đạt 148.500 đồng/kg.
Trong khi đó, Đồng Nai là địa phương có mức giá thấp nhất hôm nay, với hồ tiêu giao dịch quanh mức 147.500 đồng/kg, không thay đổi so với hôm qua.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Theo cập nhật sáng 18/1/2026 từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá hồ tiêu xuất khẩu trên thị trường thế giới hôm nay không ghi nhận biến động mới so với phiên giao dịch liền trước. Các thị trường chủ chốt tiếp tục duy trì trạng thái ổn định, phản ánh tâm lý thận trọng của giới thương mại trong bối cảnh cung – cầu chưa có yếu tố đột biến.
Tại Indonesia, giá tiêu đen Lampung được niêm yết ở mức 6.563 USD/tấn, giữ nguyên so với hôm qua. Giá tiêu trắng Muntok cũng đi ngang, hiện giao dịch quanh mức 9.118 USD/tấn.
Tại khu vực Nam Mỹ, giá tiêu Brazil không có sự thay đổi, tiếp tục được giao dịch ở mức 6.100 USD/tấn.
Thị trường Malaysia duy trì mức giá ổn định trong ngày cuối tuần. Giá tiêu đen ASTA hiện ở mức 9.000 USD/tấn, trong khi giá tiêu trắng ASTA neo ở mức 12.200 USD/tấn, không ghi nhận điều chỉnh mới.
Đối với hồ tiêu Việt Nam xuất khẩu, giá tiêu trắng tiếp tục giữ vững mức cao 9.350 USD/tấn. Giá tiêu đen loại 500 g/l duy trì ở mức 6.600 USD/tấn, trong khi loại 550 g/l ổn định quanh ngưỡng 6.800 USD/tấn.
Việc giá tiêu trong nước và thế giới đồng loạt đi ngang cho thấy thị trường đang bước vào giai đoạn tích lũy, chờ thêm thông tin mới về nguồn cung, xuất khẩu và diễn biến nhu cầu tiêu thụ trong thời gian tới.
Thông tin đáng chú ý nhất trên thị trường hồ tiêu quốc tế lúc này đến từ Indonesia. Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) dẫn số liệu ITC cho biết, trong tháng 11/2025, xuất khẩu hồ tiêu của Indonesia chỉ đạt 2.575 tấn, giảm 6% so với tháng trước và giảm rất mạnh 60% so với cùng kỳ năm 2024. Đây là tín hiệu cho thấy hoạt động giao hàng cuối năm suy yếu rõ rệt cả về nhu cầu lẫn tiến độ thực hiện hợp đồng.
Tính chung 11 tháng năm 2025, Indonesia xuất khẩu đạt 32.160 tấn, giảm 36,7% so với cùng kỳ 2024. Điều đáng nói là mức giảm này mang tính toàn diện khi nhiều thị trường tiêu thụ lớn đồng loạt thu hẹp, trong đó Việt Nam giảm trên 60%, kéo theo sự suy giảm đáng kể của tổng cầu đối với hồ tiêu Indonesia.
Không chỉ vậy, các thị trường châu Âu chủ lực như Đức và Hà Lan cũng giảm mạnh cho thấy nhu cầu từ EU chưa hồi phục ổn định. Dù Indonesia ghi nhận tăng trưởng tại một số thị trường như Hàn Quốc, Philippines, Pháp, Malaysia hay Nepal nhưng đây phần lớn là nhóm thị trường có quy mô nhỏ, chưa đủ sức bù cho phần hụt sâu ở các thị trường lớn.
Ở góc độ sản xuất, sản lượng hồ tiêu Indonesia năm 2025 ước đạt 53.000 tấn, giảm 10,1% do ảnh hưởng của thời tiết mưa nhiều, đồng thời phản ánh xu hướng suy giảm bền vững về diện tích và năng suất. Xuất khẩu năm 2025 của nước này ước đạt 35.000 tấn, giảm 36,7%, trong khi tồn kho ước còn khoảng 13.000 tấn.
Đáng chú ý, Indonesia từng giữ vai trò nguồn cung trung gian về giá, cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam ở phân khúc trung cấp và tận dụng lợi thế mùa vụ để gia tăng thị phần vào giai đoạn Việt Nam khan hàng. Tuy nhiên, khi sản lượng suy giảm và tồn kho co lại, vai trò này có thể dần thay đổi, đặc biệt nếu các thị trường tiêu thụ lớn tăng mua trở lại.





