Giá cà phê giảm nhẹ
Thị trường cà phê thế giới: kết thúc phiên giao dịch gần nhất, giá cà phê Robusta tại London giao tháng 3/2026 tăng 34 USD/tấn, ở mức 4.179 USD/tấn, giao tháng 5/2026 tăng 23 USD/tấn, ở mức 4.096 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá cà phê Arabica giao tháng 3/2026 giảm 5,5 cent/lb, ở mức 345,5 cent/lb, giao tháng 5/2026 giảm 5,5 cent/lb, ở mức 328,8 cent/lb.
Cập nhật sáng 30/1, giá cà phê tại các tỉnh Tây Nguyên đồng loạt điều chỉnh giảm từ 700 - 1.000 đồng/kg so với ngày hôm trước, đưa mặt bằng giao dịch về quanh vùng 100.500 - 101.300 đồng/kg.
Tại Đắk Lắk và Đắk Nông, hai địa phương dẫn đầu về giá thu mua, mức giảm lên tới 1.000 đồng/kg, hiện phổ biến ở 101.300 đồng/kg.
Gia Lai cũng ghi nhận mức điều chỉnh mạnh 900 đồng/kg, đưa giá về khoảng 101.100 đồng/kg.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Trong khi đó, Lâm Đồng tiếp tục là khu vực có giá thấp nhất khi giảm 700 đồng/kg, xuống quanh 100.500 - 100.600 đồng/kg.
Việc giá giảm nhẹ đồng loạt trên toàn vùng trồng chính cho thấy dòng bán ra đã tăng nhẹ, khi nhiều nông dân tận dụng thời điểm thị trường khởi động lại để thanh khoản nguồn hàng. Tuy nhiên, mặt bằng giá hiện tại vẫn ở mức cao nếu so với trung bình nhiều năm, cho thấy thương hiệu cà phê Việt Nam và lực cầu nội địa vẫn khá vững.
Giới phân tích thị trường nhận định rằng trong ngắn hạn, giá cà phê trong nước có thể dao động quanh vùng 100.000–102.000 đồng/kg, không cho thấy xu hướng tăng hoặc giảm mạnh ngay lập tức. Điều này xuất phát từ việc nguồn cung nội địa vẫn còn hạn chế do vụ thu hoạch đã bước vào giai đoạn cuối. Tâm lý thương lái và nông dân trở nên thận trọng sau kỳ nghỉ Tết. Thị trường phái sinh quốc tế tiếp tục có các nhịp điều chỉnh kỹ thuật nhưng chưa phá vỡ xu hướng giá cao hơn.
Nếu lực cầu tiếp tục tích cực trong các phiên tới và thị trường quốc tế xuất hiện các thông tin hỗ trợ giá, giá cà phê Việt Nam có thể phục hồi nhẹ sau nhịp điều chỉnh này. Ngược lại, nếu tồn kho tăng hoặc lực bán kỹ thuật mạnh mẽ hơn, giá có thể tiếp tục điều chỉnh trong biên độ hẹp.
Giá hồ tiêu ổn định
Cập nhật sáng 30/1, giá tiêu tại thị trường nội địa không biến động so với hôm qua, tiếp tục dao động trong khoảng 149.000 - 152.000 đồng/kg.
Cụ thể, tại khu vực Tây Nguyên, Đắk Lắk và Đắk Nông (thuộc tỉnh Lâm Đồng mới) vẫn là những địa phương có mức thu mua cao nhất thị trường, cùng đạt 152.000 đồng/kg.
Gia Lai giữ giá quanh 151.000 đồng/kg, trong khi Bà Rịa – Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) phổ biến ở mức 150.000 đồng/kg.
Đồng Nai tiếp tục là địa phương có mức thấp nhất với 149.000 đồng/kg.
Trái ngược với sự đi ngang của thị trường nội địa, giá tiêu trên thị trường quốc tế ghi nhận diễn biến tích cực trong phiên giao dịch gần nhất.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Theo số liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen Indonesia tăng 0,46%, tương ứng thêm 22 USD/tấn, lên mức 6.761 USD/tấn.
Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 tăng mạnh hơn, thêm 150 USD/tấn, tương đương mức tăng 2,44%, lên 6.150 USD/tấn.
Trong khi đó, tiêu đen Malaysia tiếp tục giữ ổn định ở vùng cao 9.000 USD/tấn.
Giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam cũng chưa có biến động mới, duy trì trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với các loại phổ biến.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá Muntok Indonesia tăng nhẹ 0,47% lên 9.304 USD/tấn.
Tại Việt Nam và Malaysia, tiêu trắng vẫn ổn định quanh 9.150 USD/tấn và 12.000 USD/tấn.
Năm 2025, EU đã có tổng cộng 66 cảnh báo về hồ tiêu và gia vị của các quốc gia xuất khẩu vào thị trường này, trong đó quý IV phát hiện thêm 18 cảnh báo. Việt Nam có tổng cộng 6 cảnh báo trong đó có 1 cảnh báo về hồ tiêu (anthraquinone), 4 cảnh báo về quế và 1 cảnh báo về gừng. tổng cộng 21 cảnh báo về hồ tiêu chủ yếu từ Trung Quốc (3 trường hợp), Tây Ban Nha, Sri Lanka, Thổ Nhĩ Kỳ (2 trường hợp), còn lại từ một số nước Brazil, Cambodia, Dominica, Ai Cập, Pháp, Ấn Độ, Indonesia, Kosovo, Madagascar, Rwanda và Syria.
Bên cạnh việc nâng cao chất lượng hồ tiêu và cây gia vị, theo các chuyên gia trong ngành, việc Việt Nam đang sở hữu nhiều lợi thế hơn so với nhiều quốc gia trong khu vực, đặc biệt nhờ việc ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) với những đối tác hiện là thị trường xuất khẩu quan trọng đã giúp mở rộng thị trường cho nông sản Việt.
Như đối với mặt hàng hồ tiêu và gia vị, nếu không có chứng nhận xuất xứ hàng hóa để được hưởng ưu đãi thuế quan trong khuôn khổ Hiệp định EVFTA giữa Việt Nam và EU, doanh nghiệp sẽ phải chịu mức thuế từ 4-12,5%. Đây là chênh lệch lớn, cho thấy giá trị thiết thực mà các hiệp định thương mại tự do mang lại cho hàng hóa Việt Nam.
Nếu có chứng nhận xuất xứ của Việt Nam, mức thuế sẽ được giảm xuống 0%. Điều này cho thấy việc có hay không có chứng nhận xuất xứ ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng cạnh tranh về giá và nhiều yếu tố liên quan của sản phẩm.
Hồ tiêu và gia vị Việt Nam là hàng hóa có xuất xứ thuần túy, được trồng và chế biến hoàn toàn trong nước, khó có thể trồng hiệu quả tại nhiều quốc gia khác. Đây là lợi thế lớn khi tận dụng ưu đãi thuế quan từ các FTA.
Ví dụ, tại EU, khi Việt Nam đã ký FTA, hồ tiêu và gia vị Việt Nam có ưu thế rõ ràng về thuế nhập khẩu, giúp cạnh tranh tốt hơn về giá. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải tuân thủ nghiêm ngặt quy định về kê khai, chứng từ và kỹ thuật để tránh rủi ro pháp lý và tranh chấp thương mại.





