Giá cà phê neo ở mức cao
Trên sàn London, giá robusta giao tháng 3/2026 giảm 1,81% (68 USD/tấn), xuống còn 3.666 USD/tấn. Hợp đồng tháng 5/2026 cũng mất 63 USD, tương đương 1,7%, còn 3.620 USD/tấn. Đây là mức thấp nhất của robusta trong hơn nửa năm qua.
Tại sàn New York, giá arabica giao tháng 3/2026 giảm nhẹ 0,04%, xuống 287,55 US cent/pound. Hợp đồng tháng 5/2026 nhích nhẹ 0,09% lên 285,4 US cent/pound, nhưng vẫn nằm trong vùng giá thấp nhất kể từ cuối năm 2024.
Tại Việt Nam, do đang trong kỳ nghỉ Tết Bính Ngọ 2026, giao dịch nội địa gần như tạm ngưng. Giá cà phê vẫn giữ ở mức 96.400 – 97.900 đồng/kg.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Đắk Nông đang có mức thu mua cao nhất, 97.900 đồng/kg. Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt 97.700 đồng/kg. Lâm Đồng duy trì mức 96.400 đồng/kg – thấp nhất khu vực nhưng vẫn sát ngưỡng 97.000 đồng/kg.
Mặt bằng giá nội địa chưa phản ánh đầy đủ đà giảm của thị trường quốc tế do nguồn cung ra thị trường hạn chế và giao dịch bị gián đoạn bởi kỳ nghỉ lễ.
Giới phân tích nhận định giá cà phê vẫn sẽ biến động mạnh trong những phiên tới. Nếu điều kiện thời tiết tại Brazil tiếp tục thuận lợi và các quỹ duy trì trạng thái bán ròng, thị trường có thể còn chịu áp lực.
Tuy nhiên, việc nông dân Brazil ngừng bán ra ở vùng giá thấp có thể giúp hạn chế đà giảm sâu. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ toàn cầu vẫn duy trì ở mức khá, tạo nền tảng hỗ trợ giá trong trung hạn.
Trong ngắn hạn, thị trường đang bước vào nhịp điều chỉnh sau chuỗi tăng mạnh hồi đầu tháng. Tuy nhiên, nếu lực mua quay trở lại khi giá giảm sâu, Robusta có thể phục hồi trở lại vùng 3.700 – 3.750 USD/tấn.
Giá cà phê nội địa vì vậy được dự báo sẽ biến động mạnh hơn trong tuần sau Tết, khi hoạt động thu mua và xuất khẩu trở lại bình thường.
Giá hồ tiêu ổn định
Theo khảo sát tại các vùng trồng trọng điểm, giá tiêu hôm nay vẫn dao động trong khoảng 148.500 – 151.000 đồng/kg, không thay đổi so với những ngày trước đó.
Cụ thể, Đắk Lắk và Đắk Nông (Lâm Đồng) tiếp tục là hai địa phương có mức giá cao nhất, cùng đạt 151.000 đồng/kg. Bà Rịa – Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) duy trì giao dịch ở mức 149.000 đồng/kg. Gia Lai và Đồng Nai hiện thu mua quanh mốc 148.500 đồng/kg – thấp nhất trong nhóm khảo sát nhưng vẫn ở vùng giá cao so với cùng kỳ nhiều năm trước.
Trên thị trường quốc tế, dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC) cho thấy giá hồ tiêu xuất khẩu của các nước sản xuất lớn nhìn chung ổn định.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Giá tiêu đen Lampung của Indonesia hiện giữ ở mức 6.900 USD/tấn. Tại Brazil, tiêu đen ASTA 570 được giao dịch quanh 6.125 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu đen Kuching ASTA của Malaysia tiếp tục duy trì ở mức cao 9.100 USD/tấn.
Đối với tiêu trắng, Muntok Indonesia được chào bán ở mức 9.248 USD/tấn. Malaysia và Việt Nam lần lượt giữ mức 12.100 USD/tấn và 9.150 USD/tấn. Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l và 550 g/l vẫn dao động trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn, phản ánh nguồn cung hạn chế và vị thế ngày càng cao của hồ tiêu Việt Nam trên thị trường toàn cầu.
Giới thương lái cho biết, việc giá đi ngang chủ yếu do thị trường đang trong kỳ nghỉ lễ, hoạt động mua bán chậm lại. Bên cạnh đó, nhiều hộ trồng tiêu không chịu áp lực tài chính lớn nên chưa vội bán ra, nhất là khi các tín hiệu từ thị trường thế giới vẫn khá tích cực.
Theo Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA), năm 2025 Việt Nam xuất khẩu 247.482 tấn hồ tiêu, thu về kim ngạch kỷ lục 1,66 tỷ USD. Dù sản lượng giảm nhẹ 1,2% so với năm trước, giá trị xuất khẩu lại tăng tới 26% nhờ giá bán cao.
Mỹ vẫn là thị trường lớn nhất của hồ tiêu Việt Nam với hơn 55.000 tấn, chiếm 22,3% tổng lượng xuất khẩu, dù kim ngạch sang thị trường này giảm do tác động của thuế đối ứng. Các thị trường lớn khác gồm UAE, Trung Quốc, Ấn Độ và Đức.
Riêng tháng 1/2026, xuất khẩu hồ tiêu Việt Nam đạt 21.743 tấn, trị giá 139 triệu USD, tăng hơn 66% về lượng so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Trung Quốc tăng hơn 53%, cho thấy sự trở lại rõ nét của thị trường này ngay từ đầu năm.
Theo dự báo của IPC, thị trường hồ tiêu toàn cầu được kỳ vọng đạt tốc độ tăng trưởng kép hàng năm khoảng 6,2% trong giai đoạn 2021 – 2026, nhờ nhu cầu gia tăng từ ngành thực phẩm, chế biến và xu hướng ẩm thực đa dạng trên toàn cầu.
Trong bối cảnh sản lượng khó tăng nhanh, tồn kho tập trung và nhu cầu duy trì ở mức cao, nhiều chuyên gia nhận định khả năng giá tiêu tăng thêm 10 – 15% trong năm 2026 là kịch bản hoàn toàn có cơ sở, đặc biệt nếu thời tiết và dịch bệnh tiếp tục gây áp lực lên nguồn cung tại các nước sản xuất chủ chốt.





