Giá cà phê tiếp tục tăng mạnh
Trên thị trường quốc tế, giá cà phê Robusta kỳ hạn giao tháng 3/2026 tăng mạnh lên mức 3.835 USD/tấn, tăng hơn 2% so với phiên trước. Các kỳ hạn giao xa hơn cũng ghi nhận mức tăng tương tự, dao động quanh ngưỡng 3.538 – 3.765 USD/tấn.
Trong khi đó, giá cà phê Arabica trên sàn New York cũng tăng tích cực. Kỳ hạn tháng 3/2026 đạt gần 300 cent/lb, tăng hơn 1,6%. Các hợp đồng giao xa tiếp tục duy trì đà tăng, phản ánh tâm lý lạc quan của thị trường trước triển vọng tiêu thụ cà phê toàn cầu.
Khảo sát tại các vùng trồng cà phê trọng điểm cho thấy giá cà phê hôm nay tiếp tục tăng mạnh so với phiên trước, đưa mặt bằng giá lên mức cao mới trong tuần.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Cụ thể, giá cà phê tại Đắk Lắk và Gia Lai cùng đạt khoảng 97.500 đồng/kg, tăng 2.000 đồng/kg so với ngày hôm qua. Tại Lâm Đồng, giá cà phê ghi nhận mức 96.200 đồng/kg, tăng 1.900 đồng/kg. Trong khi đó, khu vực Đắk Nông (Lâm Đồng mới) dẫn đầu với mức 97.700 đồng/kg, tăng 2.100 đồng/kg.
Mức giá trung bình toàn vùng Tây Nguyên hiện đạt khoảng 97.600 đồng/kg, tăng mạnh so với phiên trước đó. Đây được xem là mức giá khá cao trong bối cảnh thị trường đang bước vào giai đoạn cận Tết, khi hoạt động giao dịch thường diễn ra sôi động.
Trong nước, các doanh nghiệp xuất khẩu đang đẩy mạnh thu mua để hoàn tất đơn hàng trước kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán. Điều này khiến lượng giao dịch tăng lên đáng kể, góp phần kéo giá cà phê nội địa đi lên.
Bên cạnh đó, nguồn cung từ nông dân có dấu hiệu chậm lại khi nhiều hộ có xu hướng giữ hàng chờ giá cao hơn sau Tết. Tâm lý kỳ vọng thị trường tiếp tục tăng khiến lực bán ra chưa thực sự mạnh, tạo thêm áp lực tăng giá trong ngắn hạn.
Theo các chuyên gia, giá cà phê trong nước nhiều khả năng vẫn duy trì ở mức cao trong những ngày tới nếu thị trường thế giới tiếp tục ổn định. Tuy nhiên, biến động vẫn có thể xảy ra do ảnh hưởng từ hoạt động chốt lời của nhà đầu tư quốc tế cũng như diễn biến tỷ giá và chi phí logistics.
Trong bối cảnh thị trường đang bước vào giai đoạn cao điểm trước Tết, giá cà phê được kỳ vọng tiếp tục duy trì xu hướng tích cực, mang lại tín hiệu khả quan cho người trồng cà phê và doanh nghiệp xuất khẩu.
Giá hồ tiêu giảm nhẹ
Khảo sát sáng nay cho thấy giá tiêu trong nước dao động trong khoảng 148.000 – 150.500 đồng/kg, giảm nhẹ 500 đồng/kg ở một số địa phương.
Cụ thể, Đắk Nông (Lâm Đồng) điều chỉnh giảm 500 đồng/kg, đưa giá thu mua xuống còn 150.500 đồng/kg. Bà Rịa – Vũng Tàu (TP Hồ Chí Minh) và Gia Lai cũng cùng giảm 500 đồng/kg, lần lượt giao dịch ở mức 148.500 đồng/kg và 148.000 đồng/kg.
Trong khi đó, Đắk Lắk giữ ổn định ở mức 150.500 đồng/kg; Đồng Nai tiếp tục duy trì mức 148.000 đồng/kg. Nhìn chung, biên độ điều chỉnh không lớn, song cho thấy áp lực chốt lời và tâm lý thận trọng đang quay trở lại.
Ảnh minh họa. (Nguồn ảnh: Internet)
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia giảm 0,26%, tương ứng 18 USD/tấn, xuống còn 6.856 USD/tấn sau hai phiên tăng liên tiếp.
Tại Brazil, giá tiêu đen ASTA 570 giữ nguyên ở mức 6.000 USD/tấn; tiêu đen Malaysia tiếp tục được chào bán ở 9.100 USD/tấn. Với Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu vẫn dao động trong khoảng 6.400 – 6.600 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok Indonesia giảm 0,27% (25 USD/tấn), còn 9.280 USD/tấn. Trong khi đó, tiêu trắng Malaysia và Việt Nam tiếp tục đứng yên ở mức 12.100 USD/tấn và 9.150 USD/tấn.
Diễn biến giảm của Indonesia được xem là nhịp điều chỉnh kỹ thuật sau giai đoạn tăng trước đó, trong bối cảnh nguồn cung từ vụ thu hoạch mới bắt đầu ra thị trường.
Theo số liệu từ ITC, Indonesia xuất khẩu tổng cộng 35.212 tấn hồ tiêu trong năm 2025, giảm 36,5% so với năm 2024, tương đương giảm hơn 20.000 tấn.
Các thị trường lớn nhất gồm Việt Nam (7.356 tấn, chiếm 20,9%), Mỹ (4.824 tấn), Trung Quốc (4.792 tấn) và Ấn Độ (4.443 tấn), song đều ghi nhận mức sụt giảm đáng kể so với năm trước.
Báo cáo của Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam (VPSA) cho biết sản lượng hồ tiêu Indonesia năm 2025 ước đạt 53.000 tấn, giảm 10,1% do mưa nhiều và sự suy giảm diện tích, năng suất. Tồn kho hiện còn khoảng 13.000 tấn – mức thấp nhất trong nhiều năm trở lại đây.
Trong quý IV/2025, giá tiêu đen Lampung của Indonesia duy trì trên 7.000 USD/tấn nhưng giảm nhẹ vào tháng 12 khi nguồn hàng xuất khẩu dồi dào hơn. Bình quân cả năm, giá tiêu đen Lampung đạt khoảng 7.260 USD/tấn, cao hơn Việt Nam nhưng thấp hơn Ấn Độ.
Ở phân khúc tiêu trắng, giá Muntok trong quý IV/2025 dao động quanh 9.700 – 10.100 USD/tấn và giảm nhẹ so với quý III khi nguồn cung mới ra thị trường. Tính chung cả năm 2025, giá tiêu trắng Indonesia đạt bình quân khoảng 10.000 USD/tấn, biến động trong biên độ hẹp.
Các chuyên gia đánh giá Indonesia tiếp tục giữ vai trò “chuẩn giá trung cấp” của thị trường tiêu toàn cầu, cạnh tranh trực tiếp với Việt Nam ở phân khúc trung bình, đồng thời tận dụng lợi thế mùa vụ để gia tăng thị phần khi nguồn cung từ Việt Nam khan hiếm.





